THCL Đây là đề xuất của TS. Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ nhiệm UBKT của Quốc hội liên quan tới vấn đề thiếu đất canh tác nông nghiệp, trung bình có tới 2,7 hộ trên một mảnh ruộng chưa tới 2.000 m2.

TS Nguyễn Đức Kiên cho hay: “Vừa qua, chúng tôi có đi nghiên cứu ở 23 tỉnh trên cả nước, qua đó cho thấy có 3 vấn đề: Nông dân sản xuất nhỏ lẻ, trung bình có tới 2,7 hộ trên một mảnh ruộng chưa tới 2.000 m2, còn ở miền Tây Nam Bộ tương đương 7 - 8.000 m2. Mỗi khi mất mùa, người dân phải ứng trước sổ đỏ đặt vào ngân hàng. Vấn đề ở đây là phải có sự chia sẻ, đưa tư duy sản xuất công nghiệp vào nông nghiệp. Nếu chỉ đặt vấn đề yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất, tiêu chí, điều kiện cho vay thì thực ra không minh bạch, công bằng lắm”.
“Ở góc độ nghiên cứu, tại sao trong sản xuất công nghiệp sẵn sàng cổ phần hóa doanh nghiệp và chuyển giao tài sản ấy cho những chủ sở hữu khác. Tức là ai sử dụng tài sản ấy hiệu quả nhất thì phân công. Tại sao ở trong nông nghiệp lại không áp dụng như thế. Miền Bắc thì dồn điền đổi thửa, còn ở An Giang có cánh đồng mẫu lớn”, ông Kiên trăn trở.
Theo ông Kiên, tất nhiên, không thể bỏ qua đặc tính, sở hữu của người nông dân. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cần tính toán để hình thành ra ngân hàng đất. Qua nghiên cứu, phần đông ở miền Bắc và miền Tây Nam Bộ chỉ còn người già và trẻ con ở khu nông nghiệp. Nên chăng thành lập ngân hàng đất để ngân hàng đất cho các doanh nghiệp thuê lại để sản xuất lớn.
“Ở huyện An Lão (Hải Phòng) họ trồng ớt xuất khẩu, yêu cầu 30 ha trở lên. Sau khi đầu tư họ thuê luôn 100.000 đồng mỗi ngày công, còn ngày thu hoạch là 150.000 đồng/ngày công nên thu nhập của nông dân được 3,8 – 4,5 triệu đồng/tháng. Như vậy đã đạt được “ly nông bất ly hương”. “Nếu không đưa tư duy sản xuất lớn và sản xuất công nghiệp thì sẽ không thể thành công được tái cơ cấu nông nghiệp”.”, ông Kiên nêu ví dụ.
Theo ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, định hướng sắp tới đối với tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn: Sẽ chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu tín dụng để phù hợp cơ cấu nông nghiệp, phù hợp cơ cấu nguồn vốn, với quy hoạch của từng vùng, từng miền, các địa phương. Cụ thể trước đây cho vay trồng trọt, lương thực có 3 gói ưu đãi, bây giờ sẽ xem xét đặt ra nữa không?
Thứ hai, tập trung vốn tín dụng với cơ chế chính sách có ưu đãi một cách phù hợp, chứ không tràn lan ở các lĩnh vực trọng tâm như xuất khẩu, ứng dụng công nghệ cao, khoa học kỹ thuật để nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. “Chúng tôi sẽ tập trung vốn, thời hạn, lãi suất cho các đối tượng kể trên”, ông Tú nhấn mạnh.
Đặc biệt là cho vay các dự án, doanh nghiệp, hộ gia đình tham gia vào chuỗi liên kết giá trị sản phẩm từ khâu sản xuất, chế biến, xuất khẩu. Một chuỗi liên kết có thể có nhiều thành phần tham gia nhưng quan trọng là lợi ích các bên tham gia, khi có lợi ích thì người ta sẽ tham gia. Ngân hàng như sợi dây tạo ra lợi ích cho các bên tham gia chuỗi liên kết này.
Thứ ba, tiếp tục tham gia mạnh mẽ vào các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình nông thôn mới, chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững, …
Thứ tư, tiếp tục các chương trình tín dụng đã có nhưng sẽ chọn lọc và sẽ thu gọn lại. Những chính sách nào ưu tiên, ưu đãi nữa trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn sẽ được đặt ra nhưng cần có hiệu quả.
Thứ năm, thực hiện tốt nhất Nghị định 55 của Chính phủ, Nghị định này được coi là sự cởi mở rất tích cực cho nông nghiệp nông thôn. Thời gian qua, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với nông nghiệp chưa được bám sát theo Nghị định 55. Chủ trương chính sách đã có bây giờ triển khai và phối hợp thế nào?.
Thứ sáu, tăng cường sự phối hợp chính sách giữa các Bộ ngành, địa phương để nguồn tín dụng ngân hàng hỗ trợ được doanh nghiệp, người dân hiệu quả nhất. Hiện nay có nhiều chính sách nhưng cũng phụ thuộc nhiều Bộ, ngành khác. Ví dụ như Nghị định 67 có tín dụng rồi nhưng để đóng tàu được phụ thuộc Bộ, ngành, địa phương?. Vì vậy, cần có sự phối hợp tích cực hơn nữa giữa các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức xã hội theo sự chỉ đạo chung của Chính phủ.
Kiều Tuyết



















